Archive for Tháng Mười Hai, 2009

h1

Câu Chuyện Hôm Qua

25/12/2009

 

Bùi Giáng

(Trích từ tạp chí Văn, số 15 ngày 18 tháng 5, 1973)

 

Đọc sách có lúc nên đọc chăm chú, có lúc nên đọc lơ đễnh. Đọc lơ đễnh, nghĩa là đọc một đường mà nghe ra một nẻọ Nhìn một nẻo mà thấy ra một ngã ba .

Nói một cách nôm na thì ấy là : có lúc nên chăm chăm chú chú bo bo hiểu theo nghĩa đen và có lúc nên mơ màng hiểu theo mông lung nghĩa bóng.

Sao gọi là nghĩa bóng?

Nghiã bóng là nghĩa có mang theo những sương bóng sa mù thường lổ đổ rớt hột vây phủ những ngã ba.

Sao gọi là ngã ba ?

Ngã ba là nơi mà con đường ngôn ngữ rẽ ra làm ba hướng. Ba hướng của một con đường? Vâng. Một mà ba. Ba mà một.

“Một hôm đếm một ra ba

Thật là lạ lắm ấy là cái chi ? ”

Tự nêu câu chất vấn như thế xong, là có thể nhảy vọt vào giữa cơn lốc ngôn ngữ tĩnh mịch của vài bộ kinh Phật. Của vài pho sách vũ hiệp. Cuả vài câu thơ William, Nguyễn Du

“Rồi từ ngẫu nhĩ gặp nhau …”

Theo nghĩa đen thì đó là lời kể chuyện Kim Trọng tán tỉnh Thúy Kiềụ Còn theo nghĩa bóng?

Nghiã bóng rất có thể là : Thúy Kiều tán tỉnh Trọng Kim?

Trọng Kim có nghĩa là đồng Đô La mà cũng có nghĩa không hẳn là đồng Đô Lạ

Cũng như thơ lá cỏ Whitman không nhất thiết tất nhiên là thơ lá cỏ. Lấy trong ý tứ mà suy ? Cái gì hiện ra ở phía sau câu thơ ? Câu thơ không nói rõ ra nhưng vẫn cho thấy một cái gì khác hiện ra ở phiá sau lời nói cuả câu thợ Cái khác ấy là cái chi ?

“Nhớ ngày hành cước phương xa
Gặp sư Tam Hợp ấy là Đạo Cô ”

Đạo Cô có thể là ni cô mà cũng có thể không hẳn là ni cộ Bởi vì cuộc gặp gỡ Đạo Cô kia xảy ra giữa một cuộc du hành mênh mông phương xa hành cước trong một ngày nhớ lại …

Nhớ
Ngày
Hành Cước Phương Xa …

Phương xa đã đi về cận lập phương gần. Và ngày quá khứ đã như lại vào trong hiện tạị

Liễu liệu đi chơi một trận giữa “Mưa Nguồn” kể ra cũng có phần thong dong mát mẻ, và quên đi những tiếng thốt man dại đoạn trường.

Tạm gọi đó là đoạn trường tái tân thanh. Vậy từ nay Vịnh Kiều, tiếp hậu cái thông đạo ngã ba Nguyễn Du, một thông đạo khác mở ra theo lối:

“Hỏi tên rằng biển xanh dâu
Hỏi quê rằng mộng ban đầu đã xa
Gọi tên rằng một hai ba
Đếm là diệu tưởng đo là nghi tâm”

Tuy nhiên, ấy chẳng qua cũng là nói cho có thể thống tươm tất đầu đuôị Đơn sơ hơn, nên viết vài câu lai rai như cũ :

“Bỏ hai chân xuống một vùng
Nước truông là lá thu rừng xuống khe”

Vậy thì đọc thơ phải nên thẩn thơ lơ đễnh chút ít. Đừng ráo riết vểnh tai lơ láọ Từ đó “lơ đễnh” có nghĩa là “lên đỡ”. Lên đỡ, ấy là đỡ lên. Đỡ lên là đừng đập cho rớt xuống. Đập cho rớt xuống thì cái trái cây nó giập mất đị Thì tan hoang tinh thể.

Văn ? Thính ? Một giờ riêng biệt hồi tâm? Phương trượng chùa thiếu lâm Vạn Hạnh một lần kia đã đáp vào câu hỏi của Nữ thí chủ Tam Cô Nương như thế nào ?

Ngài lim dim con mắt mà rằng:

“Pháp pháp tuy vô tận
Vắn tắc ứng viết tam
Nễ ứng như thị vấn
Bất ứng như thị thinh”

(Trung Niên Thy sĩ ghi chép)

Từ đó trung niên thi sĩ chẳng phải là thằng thi sĩ bốn mươi lăm tuổi nên gọi nó là trung niên ! Nó có thể già nua hơn nhiều, nghĩa là già nua hơn cả những bậc lão thành chín mươi lăm tuổi mà nó thường tặng thơ cho ho.. Trung Niên Thy Sĩ là thằng thy sĩ đứng chênh vênh giữa hai bờ cõi để nghe ra những âm thanh chon von tịch hạp:

“Gần miền có một mụ nào
Đưa người viễn khách tìm vào vấn danh
Hỏi tên rằng Mã Giám Sinh
Hỏi quê rằng huyện Lâm Thanh cũng gần”

Một mụ nào vô danh ? Người viễn khách được đưa vào cuộc vấn danh ? Câu chất vấn được nêu ra song trùng nhị bội ? Người viễn khách dị thường nọ lưu trú ở huyện gần ? Sa Mạc cận lập bên Tồn Lưu ?

Thế có nghĩa là gì ?

Lời đáp hiện ra theo lối vịnh vào:

“Gần miền có một mụ nào
Ấy là hàng xóm chiêm bao láng giềng
Vấn danh nhiễu loạn thuyền quyên
Hình dung giữa trận ưu phiền ngó nhau”

Nguyễn Du muốn nói lên điều đó. Trong trận ưu phiền ngó nhau giữa buổi hoàng hôn ly biệt, những cảnh tượng của cõi đời đã biến dạng.


Cái lời của Thơ và của tư tưởng cũng như cuộc đối thoại giữa đôi bên, đã biến đổi rồi, qua một buổi hoàng hôn như thế. Và duyên do có thể là ?

“L’être de l’étant se recueille en l’Adieu de son Destin…”

Thể tính của hiện thể, tồn lưu của hiện tồn đang tụ hội tinh thể minh trong cuộc vĩnh ly định mệnh minh. Và xin mượn câu thơ của ông Đặng Tấn Tới làm lời chào ly biệt lúc rừng thu phong đã nhuộm màu quan san:

“Tóc thề thả lá phong thi
Đường thu quá muộn ta đi quá cùng”

(Tâm Thu Kinh)

Bùi Giáng

 

h1

TRÙNG CỬU, CHẠNH GHI

19/12/2009

I

I

Hề rượu đời ta quá chén say!

Bây giờ lại tỉnh mịt mù mây

Máu xương cạn nhé lòng sông biển

Một nắm tay vơi cứ  rót đầy.

II

II

Hề rượu trắng nồng trưa cố quận

Đất trời từng trận cạn trong ta

Uống đi, hớp uống trường giang ấy

Trôi chảy trong ngần lượng ngát xa.

II

II

h1

“TUYỆT HUYẾT CA” CỦA ĐẶNG TẤN TỚI

17/12/2009

Mang Viên Long


Tại sao tôi chọn đọc thi phẩm “Tuyệt huyết ca” mà không là “Thi Thiên” (tác phẩm thứ tư, phát hành mùa Thu Quí Sửu), hay thi phẩm mới nhất vừa phát hành trong mùa Xuân 1974 là “Trúc Biếc” của Đặng Tấn Tới ? Tại sao là một tập thơ mỏng manh, được in ra vội vàng trong một năm đầy biến cố (mùa hè 1972), kỹ thuật trình bày cũng xoàng xỉnh, mà không là một tập nào trong 04 tập thơ xem như được độc giả lưu ý nhiều nhất ?

Chọn đọc “Tuyệt Huyết Ca” tôi cần nói tới hai điều :

1-Nỗi bi thiết tuyệt diệu và vô cùng của kẻ sĩ Việt Nam (hay nói cách khác: Nỗi bi thiết tuyệt diệu và vô cùng của người nghệ sĩ Việt Nam) hai mươi năm “lạnh nghe hồn réo mười phương, Ngợp lòng hoa huyết buốt xương tương tàn”.

2-Minh chứng, lần chót nhưng không phải là thừa thãi, không có sự phân chia (không phải sự tìm hiểu, nghiên cứu) nào trong Thi ca là thích hợp ; hay nói cách khác, không thể uốn nắn, xếp loại một cách gượng ép, cứng nhắc, với nhiều ác ý để từ đó đưa ra những luận cứ nhất thời rất hàm hồ, về những thi phẩm đã được giới thiệu.

Phần một (xin tóm tắt) : Thi phẩm “Tuyệt Huyết Ca” gồm 27 đoạn thơ song thất lục bát, tất cả 108 câu thơ, chung quanh một nhan đề chính đã được chọn. Sử dụng lối thơ cổ truyền Việt Nam để diễn tả những khúc ca máu hồng tuyệt vời của dân tộc, Đặng Tấn Tới đã dồn hết rung cảm tích tụ kỳ diệu bao năm giữa “Trăng cổ độ ố mầu tăng hải, Trải thu phần quan tái vài bông”, trong cảnh tượng đời sống ghê khiếp như ma quái “Người vất vưởng tận hang cùng cốc. Kiếp lạc loài oan khốc kêu sương” vào thời gian được ghi nhận là biến loạn nhất trong hai mươi năm chinh chiến.

Tôi tạm chia “Tuyệt Huyết Ca” thành một bố cục như sau : Đoạn một : (08 câu đầu) Tình cảm mang mang thúc đẩy lần viết (hay lần mở) từng trang tuyệt huyết của Dân tộc. Đoạn hai : (72 câu tiếp) có thể chia làm 04 tiểu đoạn. Tiểu đoạn a: (08 câu) Viết (hay mở) với tư thái thong dong, trang trọng, chua xót và có chút gì như là chán nản. Tiểu đoạn b : (16 câu) . Những trang đầu tiên – là một cuộc tao ngộ kỳ bí, đưa đẩy tác giả túy lúy trong cảnh “Sông nước chảy chiêm bao máu rạng. Chén vàng thanh ngồi nán đêm sương”. Tiểu đoạn c: (16 câu) . từ cuộc hội ngộ “chung tuyệt huyết” tri kỷ trên, thảm cảnh ma quái trần gian tỏ lộ sáng ngời như đời sống ngày đêm của Dân tộc đã hai mươi năm “Người vất vưởng tận hang cùng cốc/ Kiếp lạc loài oan khốc kêu sương/ Máu khô thịt nát bên đường, Rợp mầu tinh huyết đò dương đắm chìm”. Tiểu đoạn d : (32 câu) . Thái độ tìm thấy khi đã kinh qua cảnh đoạn trường (ở đây cũng là tâm sự, thái độ của kẻ sĩ – hay nghệ sĩ, đối với mọi biến động) : Giải quyết những nỗi ưu tư bi thiết bằng sự an ủi của chính mình, bằng sự xoa dịu của đôi mắt nhân ái trầm buồn của Phật Lão, và sau rốt, bằng vào sự hy vọng (vẫn còn hy vọng) : “Non nước cũ rạng ngời sông núi / Trời trong xanh muôn tuổi thơ ngây / Nước trôi mây cuốn chưa đầy / Ngày sương nắng biếc hồng rây ánh vàng”. Đoạn 3  (28 câu cuối): Con người đau khổ thống thiết từ đầu (cuộc tao ngộ) đã đổi khác : Ở đây là một cõi mới, một đời sống tiên cảnh lạ thường, hay là một cõi chiêm bao mộng mị của đa số nghệ sĩ Việt Nam. Nhờ đâu con người (em Nguyên Thủy) đã chết với máu me, với hình hài tiều tụy, với xương trắng cát lạnh, đã được sống lại vào đoạn kết ? Nhờ đâu? Xin thưa : Nhờ niềm hy vọng. Nhờ ước mơ. Nhờ mơ tưởng. Nhưng phải chăng mọi hy vọng ở tương lai cũng chỉ là chiêm bao ? Đoạn kết : “Mây gió nổi trôi ngàn bước mộng/ Bàn chân không lùa sóng vô biên/ Ta đi dạo khắp cõi miền/ Này là phố thảo kia triền xóm hoa”.

Đặng Tấn Tới trong “Tuyệt Huyết Ca” không phải u mặc như Tâm Thu Kinh, cũng không gảy những đoản khúc du dương (hân hoan hay bi lụy) liếc ngó đời  sống với đôi mắt nhuốm đượm màu sắc Lão Trang – một thái độ ẩn dấu, e dè, nản chán – đó là thái độ hay tâm sự của kẻ sĩ hiện thời. Trong 108 câu thơ ở “Tuyệt Huyết Ca” đã kéo được tấm màn cho ngần ngại cho thấy rõ ràng một hình ảnh của nhà thơ : Đây là những hình ảnh trung thực, gần gũi, linh hoạt, chứa chất nhiều tâm sự bi đát (không giấu diếm – qua những cái nhìn, đến tư tưởng) có thể đại diện cho đa số kẻ sĩ (hay nghệ sĩ) hiện thời : Thương nhớ quê hương, xót xa vì vận nước, nhưng chỉ thể hiện bằng những thái độ tiêu cực (Than thân trách phận, buồn nản, tuyệt vọng, hy vọng, mơ ước, mộng mị, chiêm bao, và thoát tục : Một tính chất biểu hiện hiển nhiên trong vài năm gần đây tâm sự, quan niệm, đời sống của người nghệ sĩ (hay kẻ sĩ) rất phù hợp với vận nước, cùng những cố gắng khai phá cho Thi ca một lối thoát). Sự chuyển biến tâm tư trên có thể giải thích tóm tắt : Quá Đau Khổ Ngao Ngán -> Thất Vọng -> Quá Thất Vọng -> Hy Vọng – > Trở Về Với Mình = Mộng / Ước / Chiêm Bao / Thoát Tục, v.v…. Tất cả những trạng thái tình cảm quanh co nầy đã được ghi dấu trong “Tuyệt Huyết Ca” bằng một giọng trầm tĩnh, trang trọng nhưng lại quá lâm li bi đát.

Tình cảm đó là :

Mang mang cát bụi lên đường

Những xương máu cũ phai hường là đâu?

Trăng cổ độ ố mầu tang hải

Trải thu phần quan tái vài bông

Nao nao gió giục sang hồng

Rụng bao nhiêu cánh giữa lồng nhân sinh

Ngậm ngùi thương cảm :

Ghé trong mây trắng môi cười

Một xe cát bụi xô người ra đi

Và :

Vin sắc máu trong tòa hồng sử

Tay run mầu lữ thứ cô hương

Lạnh nghe hồn réo mười phương

Ngợp lòng hoa huyết buốt xương tương tàn

Nồng nhiệt, tha thiết :

Ta uống cạn giòng trong bích ngạn

Cuộn tâm bào ức vạn sinh linh

Quá giang ca ngộ cô tình

Lấp mầm sinh tử như mình như ai

Người thoáng hiện di hài cuối nguyệt

Đoạn trường:

Hồn đau nhỏ máu tơ đồng

Mấy cung hồ rợn mênh mông gió gào

Sông nước chảy chiêm bao máu rạng

Chén vàng thanh ngồi nán đêm sương

Chán nản :

Mây trôi lớp lớp vô thường

Trời xanh còn lại con  đường chim bay

Nhìn thấy:

Người vất vưởng tận hang cùng cốc

Kiếp lạc loài oan khốc kêu sương

Máu khô thịt nát bên đường

Rợn mầu tinh huyết đò dương đắm chìm

Và :

Phơi xương trắng ngoài đêm cát lạnh

Vùi đó đây từng mảnh thân non

Đất bay đá chạy chi còn

Bi thương cổ lục héo mòn tân thanh !

Vì thế, tâm sự :

Trường thu hận tan tành sông núi

Bao mạng người làm củi nung tim

Mây ơi nở nụ im lìm

Chở hồn hoa trắng bay tìm tình tang

Tiếng kêu thương trầm thống còn vọng mãi muôn đời:

Nghìn thu trước ai tình xanh mắt

Nghìn thu sau hiu hắt hồn hương

Cùng nhau về tụ đầu sương

Long lanh chút mộng cuối đường tài hoa.

………………………………….

Không kể đến những tâm sự được giải bày mạch lạc trong một bố cục chặt chẽ (điều nầy cố ý hay vô tình ? Tác giả đã : “Ta cũng sầu mở quá độ chơi”) phô diễn và liên kết từng dòng xúc cảm, từng chặng thăng trầm, như một lan tràn tươi mát của suối nguồn. Ngoài một lối sử dụng thể thơ song thất lục bát độc đáo, mới lạ, tuyệt vời nhất trong những áng thơ song thất lục bát đã có tự cổ chí kim (Tôi chịu trách nhiệm về những phát biểu đã nói hôm nay cho tới ngàn sau), không có một câu thơ nào trong 108 câu của “Tuyệt Huyết Ca” tì vết, suy suyễn (mà bạn có biết là tại sao có 108 câu?). Tôi có thể ví như một xâu chuỗi hạt, 108 hạt ngọc đều ngời sáng và quí giá như nhau. Không chú trọng tới những ưu điểm hình thức, điều quan trọng tôi muốn nói lên khi chọn đọc “Tuyệt Huyết Ca”, phân đoạn và dẫn chứng, rằng không có sự phân chia nào trong Thi ca là thích hợp cho mỗi tác giả, không cố định và bắt buộc phải chịu dán cái nhãn hiệu kỳ quặt xa lạ đối với họ (Thi sĩ) Rằng Thơ phải đọc bằng tâm hồn, rung cảm tự nhiên, đọc và mê man tàng tịch trong mỗi dòng mỗi chữ. Rằng thơ phải như thế – xúc cảm ; nồng nhiệt, phẫn nộ, hay đau xót, hân hoan cũng phải chảy vào lòng người bằng ngõ ngách sâu khuất nhất của tâm hồn. Chứ không phải là một kỹ thuật dụng chữ. Dụng ngôn. Đao to búa lớn. Tôi có thể vắn tắt : Sự rung cảm truyền đạt bền bỉ và sâu sắc là phần quyết định chân giá trị của một thi phẩm chứ không phải : Viễn mơ, Dấn thân, Thiền hay một cái gì ngộ nghĩnh khác.


Mang Viên Long

h1

TẶNG MỘT NGƯỜI ĐIÊN VUI VẺ

16/12/2009

tặng Bùi Giáng

I

Ông nói những điều chẳng nói sao

Có gì vui rất mực chiêm bao?

Từ năm Gia Tĩnh hai em gái

Lễ đạp hồn xanh, máu đỏ trào.

.

II

Vui rỡn lan man khắp mọi miền

Về trồng cây cỏ đọ vô biên

Hỡi ơi! chiều gió tràn con mắt

Người múa qua đời mộng đảo điên.

h1

TUYỆT HUYẾT CA

16/12/2009

1

Lòng ơi mở từng trang tuyệt huyết!

Đưa nhau về bến nguyệt vườn sương

Mang mang cát bụi lên đường

Những xương máu cũ phai hường là đâu?

Trăng cổ độ ố màu tang hải

Trải thu phần quan tái vài bông

Nao nao gió giục sang hồng

Rụng bao nhiêu cánh giữa lồng nhân sinh

Nay buổi hội trời xanh rắc lá

Ta cũng sầu mở quá độ chơi

Ghé trong mây trắng môi cười

Một xe cát bụi xô người ra đi

Quần anh hội từ ly độ trước

Tinh anh còn vương bước lưu ly

Cao xanh đánh đổ xuân thì

Một dây vô ảnh buộc chi mấy lòng!

2

Ta uống cạn giòng trong bích ngạn

Cuộn tâm bào ức vạn sinh linh

Quá giang ca ngộ cô tình

Lấp mầm sinh tử như mình như ai

Người thoáng hiện di hài cuối nguyệt

Bao nhiêu lần bất tuyệt hư không

Hồn đau nhỏ máu tơ đồng

Mấy cung hồ rợn mênh mông gió gào

Sông nước chảy chiêm bao máu rạn

Chén vàng thanh ngồi nán đêm sương

Mây trôi lớp lớp vô thường

Trời xanh còn lại con đường chim bay

Chung tuyệt huyết ngùi say phần tử

Ai giang đầu phấn nữ u hương

Mây bay bay mãi con đường

Tà dương mờ lấp chín phường thảo hoa

3

Vin sắc máu trong tòa hồng sử

Tay rung mầu lữ thứ cô hương

Lạnh nghe hồn réo mười phương

Ngợp lòng hoa huyết buốt xương tương tàn

Ai ước vội bên ngàn gió thẳm

Ai buồn lay trên dặm lau khô

Lênh đênh ngoài biển nhấp nhô

Và ai trên nẻo mờ hồ hàn giang?

Người vất vưởng tận hang cùng cốc

Kiếp lạc loài oan khốc kêu sương

Máu khô thịt nát bên đường

Rợn mầu tinh huyết đò dương đắm chìm

Phơi xương trắng ngoài đêm cát lạnh

Vùi đó đây từng mảnh thân non

Đất bay đá chạy chi còn

Bi thương cổ lục héo mòn tân thanh!

4

Trường thu hận, tan tành sông núi

Bao mạng người làm củi nung tim

Mây ơi nở nụ im lìm

Chở hồn hoa trắng bay tìm tình tang!

Em phai máu điều Lan Lý Huệ

Lạc mê đồ gót xế phần ma

Sương phồn nội phấn nhìn ra

Ngàn xanh xa ngút bóng tà nhân gian

Ta dừng lại bên Đàn Lưu Huyết

Rót linh hồn xuống huyệt trăng khơi

Hãy ra chơi Cõi Ngoài Trời

Những anh hồn cũ bên đời lưu linh

Nghìn thu trước ai tình xanh mắt

Nghìn thu sau hiu hắt hồn hương

Cùng nhau về tụ đầu sương

Long lanh chút mộng cuối đường tài hoa

5

Mây thanh vắng phai nhòa bào ảnh

Hồn xa đưa về cảnh non thu

Hợp tan với bóng sa mù

Mang hài cái lá đi dù cái mây

Vui lăn lóc theo bầy chim cá

Ca ngâm tràn lan má liên môi

Bao nhiêu thị vọng qui hồi

Còn trong biển lục chỗ ngồi nước xanh

Xa xăm quá, tinh thành sao tới?

Hỡi người ơi vợi vợi sầu thương!

Chiêu ca một độ lên đường

Gọi hồn vô trú du phường trăng chơi

Non nước cũ rạng ngời sông núi

Trời trong xanh muôn tuổi thơ ngây

Nước trôi mây cuốn chưa đầy

Ngày sương nắng biếc hồng rây ánh vàng

6

Xưa lễ hội mơ màng nghiêng bóng

Bao nhiêu chiều ước vọng chưa xanh

Nay ta mở hội lá cành

Người em Nguyên Thủy đạp thanh phương nào?

Về đây ngát sương sao dạo khúc

Đàn tơ xanh phổ lục từ bi

Cỏ cây bến rạng lâm ly

Trăng hoa một độ xuân thì mang mang

Mây gió nổi trôi ngàn bước mộng

Bàn chân không lùa sóng vô biên

Ta đi dạo khắp cõi miền

Này là phố thảo kia triền xóm hoa

Sao biết được đâu là thanh sắc?

Buồn mà chi mưa nắng như không!

Vườn Sơn người áo y hồng

Bay bay dưới cội ngô đồng đùa sương

7

Nghiêng đôi nhánh liễu dương làn tóc

Hé đôi môi hồng ngọc bờ hoa

Mắt soi dịu ánh dương hòa

Chín từng thanh khí chói lòa hào quang

Trang tái thế trần gian mới mở

Ta với người hồn vỡ nguồn cơ

Mới hay trăng nước đường tơ

Từ xưa reo sáng trong giờ hồng hoang

Ôi trái đất còn non không tuổi

Lòng ta vui như núi long lanh

Đi về một mạch đường thanh

Bàn chân tân ước bước xanh da trời.

End

Mùa hạ điêu linh 1972